Vấn đề tranh chấp: Yêu cầu bồi thường thiệt hại và chịu phạt vi phạm hợp đồng
Nội dung vụ việc: Công ty Cổ phần P.T là nhà xuất khẩu, chuyên xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam sang Hàn Quốc. Khi có lệnh xuất hàng từ bên mua ở Hàn Quốc, Công ty P.T giao hàng cho đơn vị vận chuyển để chở hàng và giao đến cảng Cát Lái. Khi đến cảng thì giao cho đơn vị dịch vụ xuất khẩu, nhận để chuyển hàng cho hãng tàu được chỉ định. Hãng tàu sẽ vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy đến cảng Busan – Hàn Quốc và giao cho bên mua. Để thực hiện việc vận chuyển trong nước, Công ty P.T đã ký hợp đồng thuê Công ty TNHH L. Logistics vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ, chở các container hàng xuất khẩu từ kho của Công ty P.T ở Long An, chuyển đến cảng Cát Lái. Hai bên có thỏa thuận điều khoản về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng như sau: “Khi hai bên có tranh chấp, mà trong thời hạn 30 ngày không thể tự hòa giải được, thì một bên có quyền lựa chọn khởi kiện tại Tòa án hoặc yêu cầu trọng tài thương mại giải quyết”. Thực hiện hợp đồng được hơn 02 năm thì phía Công ty L. Logistics có thay đổi tài xế, tài xế mới là ông N.L.H. Tài xế H nhận hàng, cân hàng và lập phiếu xuất kho ghi nhận trọng lượng lô hàng, sau đó thực hiện vận chuyển và giao hàng cho người mà Công ty P.T chỉ định tại cảng Cát Lái vào ngày 20/4/2021. Sau đó lô hàng này đã đến cảng Busan – Hàn Quốc. Khi bên mua nhận hàng, mở niêm phong thì phát hiện hàng bị mất hơn 1/2 số lượng. Nên bên mua đã gửi thông báo yêu cầu Công ty P.T phải bồi thường thiệt hại do mất hàng với giá trị bồi thường thiệt hại gần 2,5 tỷ đồng. Sau khi nhận được thông báo yêu cầu bồi thường của bên mua tại Hàn Quốc, ngày 30/5/2021, Công ty P.T đã mời Công ty L. Logistics họp để giải quyết tranh chấp. Tại cuộc họp, Công ty L. Logistics yêu cầu Công ty P.T chứng minh thiệt hại là do Công ty L. Logistics gây ra, hai bên có tranh cãi, nên không thể tự thương lượng, giải quyết được. Nên Công ty P.T đã khởi kiện tra Trung tâm trọng tài, yêu cầu giải quyết: (1) Buộc Công ty L. Logistics bồi thường thiệt hại hàng hóa số tiền và buộc phải chịu phạt vi phạm theo thỏa thuận tại hợp đồng là 12% giá trị hàng hóa bị mất.
Công việc luật sư đã làm: Đại diện cho Công ty L. Logistics tại Trung tâm trọng tài, luật sư đã phát hành Văn bản tự bảo vệ, gửi đến Trung tâm trọng tài và nguyên đơn, tại đây đã đưa ra các quan điểm bảo vệ cho bị đơn là Công ty L. Logistics như sau: (1) Thay mặt Công ty L. Logistics, luật sư đã phản đối thẩm quyền trọng tài, căn cứ theo khoản 5 Điều 43 Luật trọng tài thương mại 2010 và khoản 4 Điều 2 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP hướng dẫn Luật Trọng tài thương mại 2010, thì thỏa thuận trọng tài nêu trên không nêu rõ tên Trung tâm trọng tài cụ thể, phía nguyên đơn – Công ty P.T chưa chứng minh được hai bên đã thỏa thuận lại để chọn Trung tâm trọng tài nhưng không thỏa thuận được, nên nguyên đơn chưa có quyền khởi kiện tại Trung tâm trọng tài đang thụ lý, giải quyết, nên đề nghị Hội đồng trọng tài đình chỉ giải quyết tranh chấp; (2) Luật sư cũng xác định nguyên đơn – Công ty P.T chưa chứng minh được bị đơn – Công ty L. Logistics có hành vi vi phạm hợp đồng, cụ thể là chưa chứng minh được bị đơn vi phạm nghĩa vụ bảo đảm an toàn hàng hóa từ thời điểm nhận đến thời điểm giao theo hợp đồng vận chuyển, vì khi nhận và giao hàng hai bên đã có cân hàng; trách nhiệm của bị đơn – Công ty L. Logistics chỉ giới hạn trong phạm vi vận chuyển đường bộ từ kho Công ty P.T đến cảng Cát Lái, trong khi hàng hóa này có thể mất trên đường vận chuyển từ Cảng Cát Lái đến cảng BuSan – Hàn Quốc; (3) Luật sư xác định Công ty P.T chưa phát sinh thiệt hại thực tế, do bên mua mới phát hành văn bản yêu cầu bồi thường, Công ty P.T chưa phát sinh thiệt hại thực tế, nên theo (2) và (3) và căn cứ Điều 302, 303 Luật thương mại năm 2005, bị đơn – Công ty L. Logistics không vi phạm hợp đồng, cũng không phát sinh thiệt hại thực tế, nên bị đơn – Công ty L. Logistics không có trách nhiệm bồi thường; và (4) Luật sư cũng xác định nguyên đơn – Công ty P.T đã không khiếu nại trong thời hạn 14 ngày kể từ ngày nhận hàng tại cảng Cát Lái, căn cứ theo điểm đ khoản 1 Điều 237 và Điều 294 Luật thương mại 2005, Luật sư yêu cầu Hội đồng trọng tài, nếu tiếp tục giải quyết thì áp dụng quy định này để miễn trách nhiệm cho Công ty L. Logistics.
Kết quả giải quyết tranh chấp: Sau khi nhận được văn bản Tự bảo vệ do luật sư đại diện phát hành, phía nguyên đơn đã xem xét và rút đơn khởi kiện, bị đơn không tiếp tục có yêu cầu giải quyết vụ việc.
-
Trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ án dân sự...
BLTTDS năm 2015 quy định về trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong...
-
CÓ ĐƯỢC GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ?
Đặt vấn đề: Trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 (4IR), nhu cầu hợp tác kinh doanh thông qua hình thức thành...
-
LẬP DI CHÚC THỪA KẾ ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ BẤT ĐỘNG SẢN ĐANG...
Nội dung vụ việc: Ông Nguyễn Văn N (quốc tịch Việt Nam) và bà Nguyễn C (quốc tịch Mỹ) kết hôn vào năm 1985, có...
-
TƯ VẤN VỀ VIỆC NHẬN THỪA KẾ BẤT ĐỘNG SẢN CHO NGƯỜI GỐC VIỆT...
Nội dung vụ việc: Ông Đặng Hoàng M và bà Trần Kim N có hai người con chung là anh Đặng Trần K và anh...




