Đặt vấn đề:
Trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 (4IR), nhu cầu hợp tác kinh doanh thông qua hình thức thành lập pháp nhân mới hay thông qua hợp đồng BCC ngày càng nhận được sự quan tâm và lựa chọn của nhiều cá nhân, tổ chức kinh tế. Một trong những hạt nhân tạo nên tính hiệu quả, bền vững của việc hợp tác kinh doanh đó là tài sản góp vốn, đặc biệt là các tài sản mang tính chất “vô hình” như quyền sở hữu trí tuệ. Vấn đề pháp lý được đặt ra, đó là có được góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ hay không? Bài viết sẽ giúp các chủ thể kinh doanh trả lời được câu hỏi pháp lý này.
1. Có được góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ?
Căn cứ quy định tại khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sau đây gọi tắt là “Luật DN”), góp vốn được hiểu là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty, bao gồm góp vốn để thành lập công ty hoặc góp thêm vốn điều lệ của công ty đã được thành lập.
Khoản 1 Điều 34 Luật DN quy định tài sản góp vốn là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ (sau đây gọi tắt là “QSHTT”), tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam.
Như vậy, có thể sử dụng QSHTT để góp vốn vào doanh nghiệp. Tuy nhiên, để đảm bảo tính hợp lệ của việc góp vốn bằng tài sản này, pháp luật hiện hành quy định điều kiện tiên quyết, đó là cá nhân, tổ chức phải là chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với QSHTT (khoản 2 Điều 34 Luật DN).
2. Góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ như thế nào là hợp lệ?
Bước 1: Định giá QSHTT
Xuất phát từ tính chất đặc thù của QSHTT, nhà làm luật đã xây dựng cơ chế pháp lý riêng biệt để điều chỉnh thủ tục góp vốn bằng QSHTT. Theo đó, khi góp vốn bằng QSHTT, các bên phải thực hiện định giá QSHTT để quy đổi thành đồng Việt Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Luật DN. Các vấn đề cần lưu ý về thủ tục định giá QSHTT tương ứng với từng trường hợp khác nhau như sau:
Một là, nhận góp vốn bằng QSHTT khi thành lập doanh nghiệp:
Thủ tục định giá QSHTT được thực hiện theo 01 trong 02 phương thức: (i) Thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc đồng thuận; hoặc (ii) Thuê tổ chức thẩm định giá định giá. Trong trường hợp này, giá trị đó phải được trên 50% số thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận.
Hai là, nhận góp thêm vốn bằng QSHTT trong quá trình hoạt động doanh nghiệp.
Thủ tục định giá QSHTT được thực hiện theo 01 trong 02 phương thức: (i) Chủ sở hữu, Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần và người (bên) góp vốn thỏa thuận định giá; hoặc (ii) Thuê tổ chức thẩm định giá định giá. Trong trường hợp này, giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và chủ sở hữu, Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận.
Bước 2: Chuyển QSHTT cho doanh nghiệp
Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Luật DN, đối với QSHTT có đăng ký quyền sở hữu (sau đây gọi tắt là “QSH”) thì khi góp vốn vào doanh nghiệp, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần phải chuyển QSHTT cho doanh nghiệp. Theo đó, bên góp vốn và bên nhận góp vốn sẽ tiến hành ký kết hợp đồng góp vốn, trong đó ghi nhận việc bên góp vốn góp vốn vào doanh nghiệp bằng QSHTT (Đối với trường hợp nhận góp vốn khi thành lập doanh nghiệp thì hợp đồng này được ký sau khi doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp).
Ngoài ra, theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ, đối với một số tài sản phải đăng ký bảo hộ, thì khi thực hiện chuyển QSHTT cho doanh nghiệp (tức thay đổi chủ sở hữu trên văn bằng bảo hộ), cần phải thực hiện thủ tục đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Theo đó, bên góp vốn và bên nhận góp vốn phải ký kết hợp đồng và đăng ký hợp đồng này tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Bước 3. Cấp giấy chứng nhận góp vốn/cổ phiếu
Sau khi hoàn tất việc góp vốn theo các bước trên, công ty nhận góp vốn cấp giấy chứng nhận phần vốn góp/cổ phiếu cho thành viên, cổ đông theo quy định của Luật DN.
3. Một số vướng mắc và giải pháp pháp lý
- Việc chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho doanh nghiệp
Pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành không quy định chi tiết về giao dịch góp vốn vào doanh nghiệp bằng QSHTT, trong khi đó theo quy định của pháp luật doanh nghiệp, khi góp vốn người góp vốn phải chuyển QSH tài sản góp vốn cho doanh nghiệp.
Hiện nay, theo pháp luật sở hữu trí tuệ, việc chuyển QSH tài sản góp vốn là QSHTT chỉ quy định ở hình thức chuyển nhượng QSH. Đối với các hình thức chuyển QSHTT khác theo pháp luật sở hữu trí tuệ thì không đáp ứng được yêu cầu “chuyển QSH tài sản góp vốn” vào doanh nghiệp theo quy định của Luật DN.
Thực tiễn đặt ra trường hợp vướng mắc sau: (i) Khi thực hiện thủ tục góp vốn mà ký hợp đồng góp vốn để đăng ký chuyển QSH tài sản góp vốn, các chủ thể liên quan có thể bị cơ quan có thẩm quyền từ chối thực hiện thủ tục đăng ký chuyển QSH; trong khi đó, (ii) Nếu ký hợp đồng chuyển nhượng để thực hiện việc góp vốn thì không đúng bản chất pháp lý của giao dịch góp vốn, vì việc chuyển nhượng thì bên nhận chuyển nhượng phải “trả tiền”.
Đứng trước tình trạng vướng mắc này, trên thực tế, bên góp vốn và bên nhận góp vốn có thể lựa chọn giải pháp ký 02 hợp đồng độc lập:
– Hợp đồng góp vốn: Bên góp vốn (thành viên, cổ đông) góp bằng tiền cho bên nhận góp vốn (công ty), theo hợp đồng này thì thành viên/cổ đông phải trả số tiền là X đồng cho bên nhận góp vốn (tiền góp vốn);
– Hợp đồng chuyển nhượng QSHTT: Bên góp vốn (thành viên, cổ đông) chuyển nhượng QSHTT cho bên nhận góp vốn (công ty). Theo hợp đồng này, công ty trả số tiền nhận chuyển nhượng là X đồng cho thành viên/cổ đông. Sau đó, hai bên có thể bù trừ nghĩa vụ với nhau.
- Về thời hạn chuyển quyền sở hữu trí tuệ
Theo quy định tại Điều 27, Điều 34, Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, mỗi đối tượng QSHTT có thời hạn bảo hộ khác nhau (05 năm, 10 năm, 20 năm…). Theo đó, tùy vào tài sản sở hữu trí tuệ mà thời hạn góp vốn sẽ được thỏa thuận phù hợp với thời hạn sở hữu tài sản này.
Từ vấn đề này, nếu một thành viên/cổ đông góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ, các thành viên/cổ đông khác góp vốn bằng các tài sản khác như bằng tiền, bằng vàng, bằng quyền sử dụng đất thì khi đối sánh với nhau về thời hạn sở hữu, sẽ thấy có sự chênh lệch. Do vậy, khi góp vốn, ký hợp đồng góp vốn bằng QSHTT, các bên cần lưu tâm kỹ lưỡng về thời hạn góp vốn, tránh hiểu sai, dẫn đến các tranh chấp về sau.
- Về nguyên tắc kế toán vốn chủ sở hữu
Các giao dịch góp vốn bằng QSHTT được kế toán như việc đi thuê tài sản, chứ không được xác định như việc góp vốn bằng các tài sản thông thường (Tiền, bất động sản).
Căn cứ khoản 3 Điều 66 Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp, việc nhận vốn góp bằng các loại tài sản vô hình như bản quyền, quyền khai thác, sử dụng tài sản, thương hiệu, nhãn hiệu… chỉ được thực hiện khi có quy định cụ thể của pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép. Khi pháp luật chưa có quy định cụ thể về vấn đề này, các giao dịch góp vốn bằng nhãn hiệu, thương hiệu được kế toán như việc đi thuê tài sản hoặc nhượng quyền thương mại, theo đó:
(i) Đối với bên góp vốn: Ghi nhận số tiền thu được từ việc cho bên kia sử dụng thương hiệu, nhãn hiệu, tên thương mại là doanh thu cho thuê tài sản vô hình, không ghi nhận tăng giá trị khoản đầu tư vào đơn vị khác và thu nhập hoặc vốn chủ sở hữu tương ứng với giá trị khoản đầu tư.
(ii) Đối với bên nhận vốn góp: Không ghi nhận giá trị thương hiệu, nhãn hiệu, tên thương mại và ghi tăng vốn chủ sở hữu tương ứng với giá trị thương hiệu, nhãn hiệu, tên thương mại nhận vốn góp. Khoản tiền trả cho việc sử dụng các QSHTT này được ghi nhận là chi phí thuê tài sản, chi phí nhượng quyền thương mại.
Theo các quy định đã viện dẫn, vấn đề pháp lý được đặt ra là hiện tại, việc góp vốn bằng QSHTT có được xem là đã “có quy định cụ thể của pháp luật” hay chưa? Trên thực tiễn vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Do vậy, khi các chủ thể kinh doanh lựa chọn hình thức góp vốn bằng QSHTT, nên có sự tham vấn thêm các chuyên gia về thuế, cơ quan quản lý thuế tại từng địa phương, Bộ Tài chính để được hướng dẫn, nhận diện và xác định rõ nguyên tắc ghi nhận vốn chủ sở hữu, tránh việc đã thực hiện thủ tục góp vốn, nhưng sổ sách không thể hoàn thành được.
-
Trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ án dân sự...
BLTTDS năm 2015 quy định về trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong...
-
CÓ ĐƯỢC GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ?
Đặt vấn đề: Trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 (4IR), nhu cầu hợp tác kinh doanh thông qua hình thức thành...
-
LẬP DI CHÚC THỪA KẾ ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ BẤT ĐỘNG SẢN ĐANG...
Nội dung vụ việc: Ông Nguyễn Văn N (quốc tịch Việt Nam) và bà Nguyễn C (quốc tịch Mỹ) kết hôn vào năm 1985, có...
-
TƯ VẤN VỀ VIỆC NHẬN THỪA KẾ BẤT ĐỘNG SẢN CHO NGƯỜI GỐC VIỆT...
Nội dung vụ việc: Ông Đặng Hoàng M và bà Trần Kim N có hai người con chung là anh Đặng Trần K và anh...




